Tin Thường Ngày.

Các Tin Tức Thường ngày trong cuộc sống chúng ta.

Tin Tức, Chuyện Lạ, Người đẹp

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2012

Những tập tục mai táng kỳ lạ trên thế giới


Những tập tục mai táng kỳ lạ trên thế giới

Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới


Có bao giờ bạn tự hỏi tục lệ chôn cất người chết bắt nguồn từ đâu? Tại sao chúng ta chôn 
cất người chết? Ở các quốc gia khác người ta có chôn người chết không? Và nếu không 
chôn cất thì họ sẽ làm như thế nào? Dưới đây chính là câu trả lời cho những câu hỏi trên:

1. Pháo đài của sự im lặng
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu
Những tín đồ của thần lửa tin rằng cơ thể là vật không tinh khiết và không nên làm ô nhiễm 
Trái đất bằng cách chôn cất hoặc hỏa táng. Chính vì vậy, họ đã dựng lên một pháo đài của thị
 trấn, nơi họ đưa những người chết trên đỉnh tháp, sau đó những loài kền kền cùng các yếu tố
 thời tiết sẽ giúp phân hủy những xác chết này. Sau khi thi hài người chết đã bị mặt trời tẩy 
trắng da và sấy khô xương thì họ nhặt lại và hòa tan chúng trong vôi. Điều đó giúp cho con 
người ta cảm thấy rằng họ là người có ích, ngay cả sau khi đã chết.
Đạo thờ hỏa giáo là nguồn gốc cổ xưa của Hồi giáo, nó cũng được coi là tôn giáo lâu đời 
nhất . Người ta tin đó là nguồn gốc của các tôn giáo khác như này Do Thái giáo, Kitô giáo
 và cuối cùng là đạo Hồi.

2. Mai táng trên cây
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu
Những người dân bản địa của Autralia đưa những người chết lên trên cây. Giống như với
 các tín đồ của thần lửa, họ nhờ tới thời tiết và động vật trong rừng để phân hủy xác của những
 người thân của mình.

3. Chôn cất trên tàu cướp biển
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu
Vì những kẻ cướp biển đã sống và chết trên biển, thế nên xác của họ nằm trên một con tàu 
đầy vàng bạc giá trị và lênh đênh trên biển khơi. Bạn có nghĩ rằng những người này cần
 phải được chuyển vào bờ để chôn cất? Hoàn toàn không, bởi nhiều người cho rằng, những
 xác chết bị thối rửa này sẽ ngày đêm trôi dạt trên biển và bị chính những động vật của biển cả 
"làm thịt".

4. Thiên táng của người Tây Tạng
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu

Những xác chết trần trụi nằm phơi mình...
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu





















Những xác chết trần trụi nằm phơi mình.
Sau đó bị loài chim và kềnh kềnh rỉa thịt và xương từng chút một

Cũng giống như những tín đồ thần lửa, họ đặt các loại hoa quả và thực phẩm bên cạnh xác 
chết để thu hút các loài động vật như kền kền, với hy vọng chúng sẽ bay đi và mang những 
người thân của họ lên... thiên đường.

5. Chôn trong đầm lầy
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu
Người chết bị trói cổ và lôi xuống đầm lầy

Đây là cách người châu Âu chôn cất thân nhân của họ trong thời Trung cổ thả trong một đầm lầy.
Vào ngững năm cuối của thời Trung Cổ, người ta bắt đầu biết đến cách chôn xác chết dưới đất 
và từ đó cũng đã xuất hiện nhiều ngôi mộ. Tuy nhiên, đám tang vẫn chỉ là nghi thức dành cho giới
 thượng lưu thời đó.

6. Tự thiêu theo người chết
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.1), Tin tức trong ngày, chuyen la, chuyen la the gioi,mai tang, tap tuc, ky la, kinh di, van hoa, tay tang, hoa thieu
Người Hindu tin rằng khi một người đàn ông chết, người vợ cũng phải tự thiêu để về đoàn tụ 
cùng chồng. Đó được xem là một sự hy sinh cần thiết ở thời bấy giờ, và dù hành động này đang 
bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng cho đến ngày nay vẫn được một số người áp dụng.


7. Chôn hai lần
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.2), Tin tức trong ngày, mai tang, ky la, tan nhan, tap tuc, van hoa, an thit nguoi chet
Sau khi xác phân hủy, những bộ xương còn lại sẽ được dùng để làm vật dụng gia đình
Ở Melanesia, cư dân của quần đảo Trobriand chôn người chết đến hai lần. Đầu tiên, họ chôn
 những người chết xuống đất, sau một thời gian, họ lại đào lên và dùng xương để làm thành các
 vật dụng gia đình như thìa (muỗng), hay các đồ dùng khác.
Những cư dân này sẽ đặt những đồ dùng làm từ xương người chết trong các hang động đối diện
 với biển. Họ tin rằng đây là một hành vi hiếu thảo. Vì sau này khi con cái bạn hỏi về một người nào đó đã khuất, bạn chỉ cần nói rằng cha ông của chúng là một cái thìa và nhìn hướng ra biển. Như vậy người ta sẽ không có gì phải sợ hãi mỗi khi nhắc đến
những người đã mất.


8. Phong cách của người Aztec
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.2), Tin tức trong ngày, mai tang, ky la, tan nhan, tap tuc, van hoa, an thit nguoi chet
Người xấu xa bị hỏa táng với chó, người tốt được chôn cất cẩn thận
Người Aztec có tập tục làm đám tang rất "phong cách". Đầu tiên, họ sẽ quấn những người thân yêu
đã qua đời của họ trong một bộ trang phục bằng giấy và nếu đó là một kẻ xấu xa thì họ sẽ hỏa táng
người đó cùng với một con chó. Điều này sẽ làm cho người xấu phải sống trong một thế giới đầy
 tội lỗi, xấu xa và đau đớn.
Còn đối với những người tốt, họ sẽ chôn cất cẩn thận và không quên đặt hình các vị thần núi bên cạnh.


9. Treo lên cao
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.2), Tin tức trong ngày, mai tang, ky la, tan nhan, tap tuc, van hoa, an thit nguoi chet
Người Trung Quốc cổ đại treo quan tài người chết trên những tản cây cao hoặc vách đá.
Các quan tài được thiết kế để trông giống như một đèn chùm khổng lồ.
Những quan tài này được treo ít nhất 10 mét so với mặt đất, ngoài ra có một số quan tài được
 treo đến 130 mét. Nếu là người khôn ngoan, thì khi bạn đi đến đây, đừng bao giờ nhìn lên phía
 trên nếu không muốn đau tim!

10. Ăn thịt người chết
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.2), Tin tức trong ngày, mai tang, ky la, tan nhan, tap tuc, van hoa, an thit nguoi chet
Những bộ lạc ở Amazon có một nghi lễ mai táng rất khủng khiếp, đó là… ăn người chết. Họ tin
rằng điều đó sẽ thể hiện tình yêu với người quá cố, họ cũng sẽ đạt được trí tuệ và tài năng của
 người chết. Bạn có muốn được trở nên tài năng như những người đã mất ???
11. Khiêu vũ với người quá cố
Những kiểu mai táng tàn nhẫn nhất thế giới (P.2), Tin tức trong ngày, mai tang, ky la, tan nhan, tap tuc, van hoa, an thit nguoi chet
Sẽ chẳng có gì lãng mạn và tình cảm hơn khiêu vũ với gia đình thân yêu và nhất là những người
 bạn vô cùng thân thiết. Những người ở Madagascar cho rằng linh hồn không hoàn toàn rời khỏi
 cơ thể cho đến khi nó bị phân hủy một quá trình mà có thể mất một vài năm xác người mới phân
hủy xong. Vì vậy, một khi cơ thể đã hoàn toàn bị phân hủy, họ sẽ đào lên và gói bằng dây văng lụa
 một cách cẩn thận, và người thân sẽ nhảy xung quanh. Trông cảnh tượng không khác gì một buổi
tiệc sinh nhật.

Nguồn: 24 h

Những bài thơ thương vợ

Những bài thơ thương vợ
Huy Nguyên
 
Tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thưở của Văn học, và đặc biệt phong phú trong thơ ca 
Việt Nam. Riêng mảng thơ viết về vợ tuy không nhiều lắm, nhưng đậm sắc hương và rất
 sâu tình nghĩa. Có thể trong cuộc sống thường nhật, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, 
nhưng trong những phút giây lắng đọng, những lúc xa nhau hay phải mất nhau vĩnh viễn, 
nỗi thương xót lại trào dâng và đọng thành những vần thơ đau thương, đong đầy nước mắt. 
Không có điều kiện để nói đến tất cả, xin lướt qua vài bài thơ hay, để tâm niệm tình nghĩa vợ 
chồng.

1. Thơ ca Trung đại có nhiều bài thơ thương nhớ vợ của các nhà nho nổi tiếng. Từ Nguyễn 
Trãi “Nhớ Thị Lộ”, Nguyễn Kiều (1694-1771) khóc vợ là Đoàn Thị Điểm  (1705-1748)Ngô
 Thì Sĩ (1726-1780) với Khuê Ai LụcNgô Thì Nhậm (1746-1803) Hoài nội (nhớ vợ )
đến Nguyễn Khuyến (1835-1909) khóc vợ “Điếu nội” …tất cả đều với từ ý sâu đậm, âm điệu
 thảm thiết. Nhưng hai bài thơ hay, được nhắc đến nhiều nhất, có lẽ là “Khóc Bằng Phi” và
 “Thương vợ”

Khóc Bằng phi

Ới Thị Bằng ơi đã mất rồi!
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
Đây là một bài thơ Nôm có giá trị văn chương cao, tương truyền là của vua Tự Đức, khóc 
một bà phi tài sắc nhưng chết trẻ của mình. Hai câu luận (5-6) với ý tứ mới mẻ và táo bạo: 
vì quá nhớ thương nên đập vỡ tấm gương mà nàng đã từng soi để mong thấy lại được hình 
ảnh của nàng trong đó, và xếp chiếc áo cũ mà nàng đã từng mặc, đem cất kỹ để thỉnh thoảng
 giở ra tìm chút dư hương. Quả thật đây là một áng thơ hay, nhưng đáng tiếc là chưa biết chắc
 được tác giả của nó là ai. Bằng những cứ liệu văn học và lịch sử, một số người cho rằng tác
 giả bài thơ đó không phải là vua Tự Đức. Tự Đức(1829-1883)  sống cách chúng ta trên một
 thế kỷ rưỡi, còn bài "Khóc Bằng phi" thì mới xuất hiện trên sách báo cách đây chỉ khoảng 75
 năm với phong cách thơ lãng mạn, trữ tình.

Bài thơ “ Thương vợ” của Trần Tế Xương  (1870-1907) cũng là một bài thơ hay nổi tiếng, 
được giảng dạy trong chương trình Văn Học 11. Nhân vật trữ tình là Bà , điển hình cho 
biết bao người đàn bà âm thầm chịu đựng khó nhọc vì chồng con. Bài thơ đã khắc họa  sinh
 động hình ảnh người vợ hiền sớm hôm tần tảo, quanh năm thân cò lặn lội buôn bán để có 
thể "nuôi đủ năm con với một chồng ". Gánh nặng gia đình đặt trọn lên đôi vai của bà Tú. 
Nhà thơ Tú Xương hiểu rõ điều đó lắm nên giọng thơ Thương vợ chân thành, biểu hiện những
 tình cảm, nghĩ suy rất thực.
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
Có chồng hờ hững cũng như không!
 

Ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ, ơn vợ, mà còn tự trách mình đã khiếm khuyết
 trong trách nhiệm làm chồng. Tình thương yêu, quý trọng vợ trong thơ Tú Xương đem lại 
một cảm xúc mới mẻ  cho thơ ca trung đại.
2. Thơ ca hiện đại cũng có nhiều bài thơ viết về vợ, tuy ít bài hay, nhưng kiếm tìm đâu đó 
vẫn có thể bắt gặp vài viên ngọc quý.
"Bài thơ tặng vợ" của Hồ Dzếnh khá hay, rất cảm động. Tác giả mở đầu bằng những lời lẽ 
trân trọng, tình nghĩa:
Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Rồi đưa ra tình huống cuối đời, phải lựa chọn:
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau
Và ông đề nghị:
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Ước muốn ấy có vẻ nghịch lý, nhưng là một sự lựa chọn có chiều sâu của tình cảm yêu 
thương, đong đầy trách nhiệm.
Nguyễn Duy được xem là người có thơ viết về vợ nhiều nhất. Ông có có tập thơ “Vợ ơi…” 
(tập hợp 18 bài viết từ 1971 đến 1994)  khiến nhiều người phải giật mình về độ lớn, chiều sâu
 của hình tượng người vợ.
Bài thơ “Vợ ơi…” khắc họa hình ảnh người vợ bình dị mà lớn lao:
Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy
Ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời
Lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc
Đói lả mò về
      Cơm đâu
            Vợ ơi…
Vợ là một “Cõi về” đầm ấm, thiết tha:
Cánh buồm mây tướp chiều quê
Ruỗng tênh hênh bịch rơi về cõi em
Đối với Nguyễn Duy, “Vợ ốm” là một đại hạn. Năm ấy, bệnh vợ kéo dài, là “Vợ ơi đại hạn
 đã gần một năm”. Nhà thơ phải từ bỏ cuộc sống "thượng giới rong chơi" để vào vai 
"phăm phăm ngựa thồ", túi bụi lo việc nhà. Chân lý cuộc sống được phát hiện từ những điều
 nhỏ nhặt thường ngày.
Vừa một xuân lại một xuân
Vợ ơi đại hạn đã gần một năm
…………………………………
Cha con chúa Chổm loanh quanh
 Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên việc địa việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn…

Nguyễn Duy thường có những câu thơ mạnh về ngữ nghĩa và âm thanh, nhưng khi viết về vợ,
 nhũng câu thơ của anh “Dịu và nhẹ” rất tinh tế:
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
Em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
Mỗi độ xuân về, Nguyễn Duy đều có thơ cho vợ. “Mời Vợ Uống Rượu” thể hiện một sự 
trân trọng, yêu thương rất mực. Nghĩ đến nỗi vất vả đến thay đổi cả hình hài của vợ, nhà
 thơ cố nén xót xa, cố vui  « ngọt ngào thì nổi, đắng cay thì chìm”.

Mỗi năm Tết có một lần
mời em ly rượu tay nâng ngang mày
Vợ cười chưa uống đã say
ngọt ngào thì nổi đắng cay thì chìm
Gót chân ăn vẹt bậc thềm
quanh năm tất bật đi tìm ngày xuân
Tóc loay hoay bạc bạc dần
mỗi năm Tết có một lần thôi em.



Hằng ngày vợ cằn nhằn, bao ông chồng khó chịu. Nhưng khi thiếu vắng nó một cách vĩnh
 viễn lại là một nỗi hụt hẫng lớn.  Khương Hữu Dụng nói lên cái trống vắng mênh mông khi 
vợ mất, từ đó thể hiện tình yêu lớn dành cho vợ, mà cả cuộc sống bên nhau dường như 
không thấy được, vì nó bị che lấp bởi những vụn vặt đời thường:


Em luôn miệng cằn nhằn
Kêu mưa rồi trách nắng
Ước gì em đi vắng
Ðược một ngày yên thân

Em vĩnh viễn ra đi
Mênh mong nhà lạnh vắng
Ước gì nghe em mắng
Vui tiếng em cằn nhằn

(Nhớ)
Thuận Hữu thương vợ từ “Những phút xao lòng”. Bài thơ hay, thể hiện một nét tâm lý rất 
sâu và mang tính nhân văn cao.Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu
(Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)
Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế
Yêu một cô, giờ cô ấy đã lấy chồng

Có thể vợ mình vì những phút mềm lòng
Nên giấu kín những suy tư, không kể về giấc mộng
Người yêu cũ vợ mình có những điều mình không có được
Cô ấy không nói ra vì sợ mình buồn

Mình cũng có những phút giây cảm thấy xao lòng
Khi gặp người yêu xưa với những điều vợ mình không có được
Nghĩ về cái đã qua nhiều khi nuối tiếc
Mình cũng chẳng nói ra vì sợ vợ buồn

Sau những lần nghĩ đâu đâu mình thương vợ mình hơn
Và cảm thấy mình như người có lỗi
(Chắc vợ mình hiểu điều mình không nói
Cô ấy cũng thương yêu và chăm chút mình hơn)

Nguyễn Khoa Điềm bày tỏ rất sâu tinh yêu vợ bằng một cách khác. Ông không đi theo lối
 mòn ca ngợi những khó nhọc đời vợ, mà đưa ra một tình huống “Có một ngày”.  Nếu có 
ngày đó thì tình yêu nhà thơ dành cho vợ vẫn không thay đổi. Đó là một thứ tình yêu một đời,
 dành cho một người!


Ngày em không yêu anh
Ngày em rời mái nhà xưa cũ ấy
Và chiếc áo sờn vai ấy
Anh từng hôn lên nỗi khó nhọc hàng ngày
Em xóa mình đi
Bằng chiếc khăn màu thơm ngát
Cái ngày đó
Anh sẽ bắt đầu
Với anh
Bằng bước chân ngày đón em
Anh một chàng trai
Với màu tóc khác
Riêng năm tháng cuộc đời
Thì vẫn như xưa…
Qua các bài thơ trên, ta thấy mỗi nhà thơ có một cách thể hiện riêng, nhưng tựu trung đó 
là tình cảm sâu đậm của chồng dành cho vợ, cảm thông trân trọng những hy sinh, chịu
 đựng của vợ trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả. Người vợ đã thành một nguồn
 cảm hứng, là suối nguồn hạnh phúc của các nhà thơ.
Gần đây, qua các website, tôi được đọc một số bài thơ viết về vợ với nỗi niềm thương
 cảm chân thành, xin ghi lại đây để bạn đọc thưởng lãm, tùy ý khen chê.
THI KHÚC LẠY VỢ 

Công em hay lảm hay làm
Tội tôi thơ phú nguềnh ngoàng rong chơi
Nghêu ngao ca đất ngợi trời
Quên em ca cẩm nửa đời đóng băng
Chân đi lục bát loằng ngoằng
Quả tim nhịp trắc nhịp bằng đập suông
Lang thang đau cả mép đường
Yêu chay loang lổ mảng tường phong rêu

Thoắt thôi tóc sớm xế chiều
Đuôi con mắt chạm khắc nhiều chân chim
May còn nửa nổi nửa chìm
Đem phần sống sót này tìm về đây
Nửa đời bám gió leo mây
Hôm nay ngồi phệt mặt đầy rong rêu
Mải mê thơ phú cánh diều
Bỏ trâu gặm cụt nắng chiều mồ côi
Quay về tầm mắt em thôi
Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh
Xin em hết sức lượng tình
Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua
Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa
Cũng bay về phía thật thà ngày xưa
Lạy em ướt nắng khô mưa
Giận hờn xin đánh tôi thừa một roi!
 Văn Thùy



TẶNG VỢ

Anh biết mà
Em chẳng thể giận hờn lâu
Đằng sau vẻ mặt lạnh lùng cau có
Đằng sau lời vu vơ bóng gió
Anh vẫn nhận ra em
Mồn một dịu hiền ngày xưa

Ôi, cái thằng chồng của em
Lung tung ngày nắng cắn ngày mưa
Cả đời chực ngả về em chịu tội
Thằng chồng rong chơi
Thằng chồng hứa cuội
Lầm lỗi rất siêng năng
Nên sám hối rất chân thành

Em nghệch ngờ trót vớ nhằm anh
Thời con gái mờ xa năm tháng
Chong mắt đợi chờ mòn đêm trắng
Đèn đường khuya trống hoác bóng anh về

Mà anh còn lắm nhiêu khê
Nhùng nhằng thương mây khóc gió
Lo nỗi lo trời ơi giữa chợ
Vui niềm vui chẳng tuổi chẳng tên

Lời tạ tôi muộn mằn và ngớ ngẩn
Anh chắc mà
Em sẽ lại bật cười thôi
Hăm mấy năm gừng cay muối mặn
Hăm mấy năm em vắt cạn lòng mình

Anh biết mà
Em yêu anh và yêu nốt đời anh đầy thói tật
Em yêu anh nên quên mất đời mình

Ơi hạnh phúc mong manh
Ơi hạnh phúc vũng bền
Cả đời ta đuổi bắt
Để cả đời vồ trượt
Tình vợ chồng như sóng chén cứ lanh canh

Và em ơi
Dẫu chi chi cũng trở lại bình thường
Đêm tàn thì vừng đông lại rạng
Cơn mưa rào phập phồng trên đất hạn

Mình lại tìm nhau
Như ngày xưa
Thơm ngát nụ hôn đầu.
Nguyễn Đại Bường

Nhìn chung, các nhà thơ với cảm quan tinh tế và sâu sắc của mình đã nói lên tình cảm
 thương yêu sâu đậm đối với vợ. Điểm chung nhất dễ dàng nhận ra nơi các bài thơ viết 
về vợ là sự nhớ thương, ghi công và biết ơn đối với vợ. Nhà thơ thì luôn bay bổng với
 trời xanh, nhưng vợ thì luôn bị cuộc sống kéo ghì sát đất, với bao lo toan vất vả vì chồng
 con. Bởi thế dù đi đâu, chơi đâu, thì vợ luôn là cõi về no ấm, chan chứa thương yêu! 
Và phải chăng, vợ hiền mất đi  là một trong những nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời mỗi
 người chồng có lương tri?

Huyền thoại Thiếu Lâm Tự


Huyền thoại Thiếu Lâm Tự
1. Từ Đạt Ma đến 72 tuyệt kỹ

 “Thiên hạ kungfu xuất Thiếu Lâm”, có lẽ không phải chờ đến những tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Thiếu Lâm Tự mới được biết đến như là một Thái Sơn Bắc Đẩu của võ lâm trung nguyên.

Trên thực tế, kungfu Thiếu Lâm chính là hình ảnh đại diện của nền võ học Trung Hoa, là cơ sở cho võ công của nhiều môn phái khác, và do đó cũng là phần cơ bản nhất tạo nên môn võ Wushu mà người Trung Quốc tự hào đem ra giới thiệu với thế giới dưới tư cách một phần tinh túy nhất trong truyền thống võ học của mình.

Cùng với thời gian, đặc biệt dưới ảnh hưởng của các tiểu thuyết, phim ảnh võ hiệp, kungfu Thiếu Lâm Tự trong mắt chúng ta ngày càng nhuốm màu sắc huyền bí và kì ảo.

Nhưng điều thú vị là ở chỗ, những gì còn lại đến hôm nay của võ học Thiếu Lâm đủ để chúng ta tin rằng những điều truyền tụng không phải không có cơ sở. Người hâm mộ hẳn đều hơn một lần tự hỏi: Có thật là dưới gầm trời này, trong thế giới thực tại này vẫn tồn tại một không gian võ học cao minh, bí ẩn của ngàn năm trước? Và phải chăng những bí kíp Dịch cân kinh, Tẩy tủy kinh... vẫn nằm yên trong Tàng Kinh Các một ngày nào đó sẽ lại tái xuất giang hồ và gây cơn sóng gió, như chúng đã từng gây ra trong quá khứ? VTC News xin trân trọng đăng tải loạt bài viết thú vị về huyền thoại của môn võ lừng danh thế giới này...

KÌ 1: TỪ ĐẠT MA SƯ TỔ ĐẾN TRUNG NGUYÊN THÁI SƠN BẮC ĐẨU

Ở Trung Quốc hiện nay có đến 10 ngôi chùa mang danh Thiếu Lâm. Tuy nhiên, Thiếu Lâm được nhắc đến trong tiểu thuyết Kim Dung, Cổ Long, cái nôi của thiền tông và võ thuật Trung Hoa là Thiếu Lâm Tung Sơn, thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc ngày nay, cách thủ đô Bắc Kinh chừng 600km về phía Nam. Chùa xây dựng trong khu rừng trên đỉnh núi Thiếu Thất thuộc dãy Tung Sơn, nên được gọi là “Thiếu Lâm”.

Tung
 Sơn thắng địa

Dãy núi Tung Sơn. 

Dãy núi Tung Sơn là một trong Ngũ Nhạc - một trong 5 dãy núi lớn và danh tiếng nhất Trung Hoa, nằm ở phía Nam sông Hoàng Hà và phía Bắc sông Dương Tử (Trường Giang). Núi Thiếu Thất cao chừng 860 trượng, phong cảnh tao nhã, địa thế thuận tiện, chung quanh núi được bao phủ bởi rừng thiết mộc, một loại cây rắn chắc như sắt, bền bỉ, quí báu hiếm có, tương truyền do Ðạt Ma trồng ở Tung Sơn, dùng làm binh khí và vật dụng cho chùa Thiếu Lâm. Ðỉnh Thiếu Thất bằng phẳng, rộng rãi trên 5.000 trượng vuông, là nơi tọa lạc của ngôi chùa Thiếu Lâm huyền thoại.
Gần Thiếu Thất Sơn có Lộng Nguyệt Hồ, sâu khoảng bốn trượng, nước trong suốt, vào những đêm trăng sáng, đứng trên đỉnh Thiếu Thất nhìn xuống mặt hồ giống như một vầng trăng lớn. Hồ là nơi tập luyện "thủy công" cho các môn đồ Thiếu Lâm sau này.

Theo sử sách ghi lại, vào đời Hán, Minh Đế một hôm mơ thấy vị thần người tỏa ánh vàng bay đi bay lại trong cung, có người nói là đức Phật Tây phương, vua bèn cho người sang Tây vực cầu Phật pháp, mời về hai vị cao tăng Ấn Độ là Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, lập chùa Bạch Mã ở Lạc Dương để hai người giảng kinh. Đây là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Sau hai người muốn tìm chốn núi cao rừng thẳm để tu luyện, bèn xin tìm nơi thanh tĩnh lập chùa, và đặt chân lên miền đất phúc Tung Sơn, xây dựng Đông Đô Đại Pháp Vương Tự.

Minh Đế sùng Phật, quan lại trong triều không kể cao thấp đều phải đến đây nghe giảng kinh. Tại đây, hai vị cao tăng đã dịch xong bộ Tứ thập nhị chương kinh (Bộ kinh 42 chương, được Kim Dung mô tả là đối tượng truy tìm của cả võ lâm và triều đình trong cuốn tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng Lộc đình ký). Như vậy, hạt giống Phật giáo từ Tây phương bay tới Trung Hoa đã nảy mầm ngay trên đất Tung Sơn.

Thời Tam Quốc, cũng trên đất Tung Sơn xuất hiện vị tăng nhân người Hán đầu tiên trong lịch sử, đó là Chu Sĩ Hạnh, người đầu tiên sang Tây Phương cầu pháp, mang về bản kinh Bát nhãbằng tiếng Phạn. Sách xưa chép rằng, khi ông mất, đệ tử đem hỏa táng, đến lúc lửa cháy tàn mà thân xác vẫn như còn nguyên; đến khi niệm chú thì xương cốt mới tan ra.

Năm Khai Hoàng thứ 20 đời Tùy Văn Đế, cao tăng Huyền Trang ra đời ở thôn Trần Hà dưới chân núi Tung Sơn. Bấy giờ các tông phái Phật giáo ở Trung Quốc đua nhau nổi lên, Huyền Trang nhận thấy kinh điển các phái khác nhau, tranh luận không dứt, mà xét cho cùng là do không có kinh điển gốc để tra cứu, bèn vượt gian khổ sang Thiên Trúc thỉnh kinh, mang về dịch trong 19 năm, tất cả 1331 quyển.

Truyền thuyết Đạt Ma

Đạt Ma diện bích (bích họa trên tường Thiếu Lâm tự)
Theo ghi chép trong cổ tịch, Thiếu Lâm là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của Trung Quốc, được Hiếu Văn đế triều Bắc Ngụy cho xây dựng năm Thái Hòa thứ 19 (495) làm nơi tu hành và thuyết giảng cho nhà sư Bạt Đà, vị thần tăng người Ấn Ðộ đầu tiên đến Trung Hoa truyền bá Phật pháp. Tuy nhiên, kungfu Thiếu Lâm lại gắn với tên tuổi của Đạt Ma sư tổ, tức Bồ Đề Đạt Ma, người được cho là tổ khai sơn của Thiền tông Trung Hoa.
Theo truyền thuyết, Bồ Đề Đạt Ma là con trai thứ ba của vua Nam Thiên Trúc, vượt biển sang Trung Hoa truyền pháp. Lương Vũ Đế chuộng đạo, mời Đạt Ma đến hội kiến, nhưng không cùng chí hướng; Đạt Ma bứt một cọng lau ném xuống sông, rồi đứng trên đó mà vượt Trường Giang vân du lên miền Giang Bắc.
Năm Hiếu Xương thứ ba, đời Bắc Ngụy (527), Bồ Đề Đạt Ma đến Thiếu Lâm. Có nhà sư ở Tung Sơn tên là Thần Quang nghe danh đến xin bái yết. Đạt Ma vẫn quay mặt vào bức tường, không nói năng gì. Thần Quang không nản, nhủ rằng: “Người xưa cầu đạo, đều phải trải qua gian nan thử thách, chịu những điều người thường không chịu được”.

G
iữa đêm tháng chạp tuyết lớn đầy trời, Thần Quang đứng chờ bất động bên ngoài chùa, sáng ra tuyết ngập đến đầu gối. Đạt Ma lúc ấy mới hỏi: “Ngươi đứng mãi trong tuyết để chờ gì vậy?” Thần Quang khóc mà nói: “Chỉ mong được đại sư truyền đạo”. Biết Đạt Ma còn e mình chỉ nhất thời kích động, không thể lâu dài, Thần Quang liền rút đao tự chặt đứt cánh tay trái, đặt trước mặt thầy. Đạt Ma bấy giờ mới nhận làm đệ tử, đổi pháp danh là Huệ Khả. Trong chùa Thiếu Lâm hiện nay còn Lập tuyết đình, xây dựng dưới thời Đường, nhằm ghi lại sự tích Huệ Khả chặt tay cầu đạo.
Tương truyền, trong thời gian ở Thiếu Lâm, thấy nhiều nhà sư thể trạng yếu đuối, không chịu nổi khí lạnh của núi rừng và thường hay ngủ gật trong lúc nghe thuyết giảng, Đạt Ma bắt đầu nghĩ cách tu rèn thân thể và khắc chế ngoại cảnh cho người học đạo. Kết quả sau 9 năm diện bích tham thiền (ngồi thiền quay mặt vào tường) trong động Trấn Vũ trên núi Thiếu Thất, ngài đã tìm ra tinh yếu và đúc kết vào trong hai cuốn Dịch cân kinh rèn luyện nội công và Tẩy tủy kinhrèn luyện khí công.

Có thuyết còn nói rằng, hai bộ Cửu dương chân kinh và Cửu âm chân kinh cũng do Đạt Ma sáng tạo ra. Trong khi đó, một số nghiên cứu lại nhận định, ngài đã kết hợp các bài tập luyện thở Yoga và một số môn võ tay không của Ấn Độ để tạo nên các bài tập rèn luyện tăng cường sức khỏe phục vụ cho việc tu hành.
Theo truyền thuyết đạo Phật, sơ tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma trong thời gian ở Trung Quốc đã dùng 4 quyển Lăng già kinh để dạy đệ tử, sau truyền lại cho Huệ Khả, từ đây, Thiền Tông Trung Quốc có thế hệ truyền pháp đầu tiên.
Sau khi Bồ Đề Đạt Ma viên tịch (536), các Đại sư Thiếu Lâm tiếp tục tập luyện những phương thức ngài truyền lại. Thiếu Lâm phái qua nhiều đời đã được các sư tăng xiển dương, đúc kết và phát triển mạnh mẽ và dần trở thành Bắc đẩu của các võ phái Trung Hoa. Việc hệ thống hóa võ thuật Thiếu Lâm được cho là bắt đầu từ những võ quan về hưu tu hành tại chùa.
Năm Kiến Đức thứ 3 đời Bắc Chu, Vũ Đế cấm Phật, chùa bị phá. Những năm Đại Tượng được xây dựng lại, đổi tên  thành chùa Bộ Cô, mời 120 người gồm Huệ Viễn, Hồng Tuần… đến tu hành, gọi là “Bồ tát tăng”. Đời Tùy Phật giáo hưng thịnh, sắc cho lấy lại tên Thiếu Lâm Tự, ban cấp đất đai, thành ngôi chùa lớn bậc nhất ở phương Bắc.

13 võ tăng đời ĐườngĐến đời Đường (618 - 907), Lục tổ Huệ Năng đề ra chủ trương đốn ngộ, cho rằng việc tu hành không cần phải tách rời đời sống thực, “gánh nước chặt củi, đều là diệu đạo”. Công phu Thiếu Lâm bắt nguồn chính từ sinh hoạt thường ngày của tăng nhân. Tương truyền, đệ tử Huệ Quang khi mới 12 tuổi có thể đứng trên miệng giếng sâu đá cầu 500 quả, chứng tỏ công phu không phải hạng tầm thường. Rất nhiều chiêu thức của võ công Thiếu Lâm đều là sự phát triển từ những động tác thường ngày như gánh nước, quét sân, bổ củi… Công phu cao nhất thực ra lại có nguồn gốc hết sức bình dị.

 Lý Liên Kiệt trong bản Thiếu Lâm Tự 1982.
Đầu đời Đường, Thiếu Lâm đã có một đội ngũ tăng lữ dũng mãnh, thiện chiến. Khoảng năm Vũ Đức, 13 tăng nhân Thiếu Lâm Tự tham gia trợ chiến giải vây trong cuộc chiến thảo phạt Vương Thế Sung của Tần vương Lý Thế Dân, lập công trạng lớn.

Lịch sử võ thuật Trung Quốc còn nhắc nhiều đến ba vị có công lớn nhất từ Thiếu Lâm Tự là Chí Tháo, Huệ Dương và Đàm Tông. Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông Lý Thế Dân phong cho hòa thượng Đàm Tông làm Đại tướng quân, đồng thời đặc chỉ cho phép các hòa thượng Thiếu Lâm được luyện đội ngũ tăng binh, lại cho phép đại khai sát giới. Các triều đại sau này vẫn theo lệ đó.

Hiện nay trong chùa còn tấm bia Đường Thái Tông tứ Thiếu Lâm Tự chủ giáo ghi lại giai đoạn lịch sử này. Đây chính là sự kiện lịch sử được dùng làm bối cảnh cho bộ phim Thiếu Lâm Tự bản 1982 do Lý Liên Kiệt thủ vai chính Giác Viễn,
 học trò của Đàm Tông.

Cao Tông và Võ Tắc Thiên cũng thường đến viếng chùa, phong thưởng rất hậu. Được sự ủng hộ to lớn của triều đình, Thiếu Lâm nhanh chóng phát triển thành Đại phật tự danh trấn thiên hạ. Sau này các vị võ quan của triều đại nhà Đường khi về hưu cũng thường đến chùa Thiếu Lâm để trao đổi võ thuật, tạo nên một không khí giao lưu võ học trở thành truyền thống của nhà chùa cho đến các đời sau.

Nhưng cho đến lúc này các bộ môn quyền thuật của Thiếu Lâm vẫn chưa được coi trọng và phát triển đúng tầm cỡ, vì lúc đó các phương pháp sử dụng binh khí vẫn còn thịnh hành, và vũ khí phòng thân của các vị tăng nhân trong chùa chíh là cây côn, mà chủ yếu là trường côn.Chùa Thiếu Lâm lúc đó vẫn còn giữ nghiêm giới luật, cấm các tăng nhân sử dụng vũ khí bằng kim loại sắc nhọn có thể gây sát thương. Chính vì vậy, dễ lí giải vì sao côn pháp Thiếu Lâm lại tiến rất nhanh đến trình độ điêu luyện và tinh diệu. Các loại binh khí khác (thập bát ban binh khí võ nghệ) chỉ được phát triển ở các dòng Nam quyền và Bắc quyền Thiếu Lâm sau này mà thôi.
Khoảng năm Hội Xương, Vũ Tông cấm Phật, chùa bị phá đến phân nửa, suy dần trong những năm cuối đời Đường và được khôi phục dưới đời Tống.

Tống Thái Tổ và truyền thuyết Hồng quyền
Lịch sử chép rằng, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lúc thiếu thời đã từng lên Thiếu Lâm học tập võ thuật, và trở thành một quyền sư dạy võ thuật trong chùa Thiếu Lâm, sáng tạo ra Tam thập lục thế trường quyền (36 thế đánh của Thiếu Lâm Trường Quyền) mà sau này gọi là bàiThiếu Lâm Thái Tổ Trường Quyền.


Thiếu Lâm Thái Tổ hồng quyền

Sử liệu thời nhà Tống cũng ghi nhận Triệu Khuông Dẫn thường sử dụng côn pháp khi lâm trận, nghệ thuật côn pháp của ông điêu luyện và hiệu quả không kém các đại tướng của ông với các loại binh khí khác.Tuy nhiên có một truyền thuyết lưu truyền trong dân gian mà Thiếu Lâm Tự cũng công nhận: bài Thái Tổ Trường Quyền không phải do Triệu Khuông Dẫn tự soạn ra, mà do ông nằm mơ được tiên nhân dạy cho 36 động tác căn bản của Hồng Quyền, rồi tỉnh dậy theo đó soạn lại. Tuy nhiên, những yếu tố nhuốm màu truyền thuyết này không ngăn cản Hồng quyền trở thành cơ sở để hình dung diện mạo võ công Thiếu Lâm đời Tống.Thời kì này, võ công Thiếu Lâm lại tiếp tục được nâng cao, tăng nhân trong chùa có đến hơn 2000 người. Các nhà sư bắt đầu tổng hợp những phương pháp chiến đấu cá nhân bằng tay không, một thể  thức đang được lưu truyền trong dân gian lúc đó. Có thể kể ra một số bài quyền ra đời trong thời kỳ này là Tiểu Hồng QuyềnĐại Hồng QuyềnThông Tý QuyềnNgũ Hợp Quyền và Khán Gia Quyền của hòa thượng Phúc Cư.

Thiếu Lâm đại hội và 72 tuyệt kĩ
Năm Hoàng Khánh thứ nhất (1312), Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt mệnh cho hòa thượng Phúc Dụ trụ trì chùa Thiếu Lâm, phong cho làm Tấn Quốc Công, thống lĩnh các chùa quán ở Tung Sơn. Từ đó các cao tăng trong ngoài Trung nguyên tụ hội về đây, thi triển võ công, đàm đạo Phật pháp, tăng chúng thường trên dưới 2000 người.

 Tỉ thí võ nghệ (Bích họa trên tường Thiếu Lâm tự)
Tuy nhiên, sự súc tích của các pho sách tổ sư để lại đã khiến tăng chúng không đạt được sự thống nhất trong cách hiểu, từ đó nảy sinh nhiều võ công mới lạ, có lúc rời xa những nguyên lý căn bản. Từ cuối đời Tống, Thiếu Lâm phái nổi lên phong trào sáng tạo mạnh mẽ chưa từng thấy, người người, nhà nhà đều tự nhận mình là môn đồ Thiếu Lâm chính tông. Hiện tượng này chắc chắn không đưa võ công Thiếu Lâm đến đỉnh thịnh, mà dẫn đến tạp nhiễm và suy thoái. Đó không phải điều các trưởng tràng Thiếu Lâm trông đợi.

Mùa thu năm 1333, vào đời vua Huệ Tông nhà Nguyên, để chỉnh lý nội bộ Thiếu Lâm phái đã phát triển vượt ngoài tầm kiểm soát, Đại hội võ thuật Thiếu Lâm được mở tại Tàng Kinh Các. Đại hội triệu tập 700 trưởng tràng các chi nhánh, các tân môn, cựu môn, các quan nhân nguyên là môn đồ Thiếu Lâm ra xuất chánh, chủ trì đại hội là thiền sư phương trượng đời thứ 12 Nguyên Hạnh và 4 vị trưởng lão tiền bối trước đó đã ẩn cư trên 20 năm trong núi sâu.

Nguyên Nhiên, bấy giờ là một môn đồ sơ đẳng của Thiếu Lâm, đưa ra ý kiến khởi đầu các môn đồ phải tập những võ công căn bản, sau đó tùy sở trường của từng người thì luyện tập các môn mình thấy phù hợp. Ý kiến được các sư trưởng và toàn thể Đại hội nhất trí thông qua.
Sau khi tổng kết, xem xét hàng ngàn phương pháp, cách thức, bí quyết tu luyện võ công, gồm khinh công, thủy công, nhuyễn công, ngạnh công, nội công, ngoại công… được các trường tràng, các chi nhánh và các cao thủ phát triển trên nền tảng võ học Thiếu Lâm phái, Đại hội đã tiến hành sắp xếp, phân loại, và tổng hợp thành Thiếu Lâm thất thập nhị huyền công - 72 tuyệt kỹ võ học Thiếu Lâm Tự, bao quát toàn diện những hệ thống võ công từ nguyên khởi đến cả những thời điểm hoàng kim nhất của võ phái, và dù sau này có một thiên tài võ học tìm thêm được các công phu nào đó và tuyên bố rằng đó là một hệ thống chưa từng có, thì cũng vẫn có thể xếp vào một trong 72 môn loại đã được Đại hội ấn định.
Cuối đời Nguyên, thiên hạ đại loạn, quân Khăn đỏ kéo đến Thiếu Lâm, tăng chúng tản đi khắp nơi. Như mỗi lần Trung nguyên rơi vào vòng binh hỏa, kungfu Thiếu Lâm lại có dịp xuất thế lập công, và đó cũng là tiền đề cho thời kì cực thịnh của võ công Thiếu Lâm dưới đời Minh.

2. Thiếu Lâm tự và sự thật bí kíp tuyệt học Dịch cân kinh
Trong các tiểu thuyết võ hiệp, Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh là những bí kíp mà cả võ lâm đều mơ có được. Nếu như Dịch cân kinh được mô tả có thể giúp hoán chuyển kinh mạch, phát dương nội công, thì Tẩy tủy kinh là thần pháp biến đổi từ bên trong, giúp con người cải lão hoàn đồng.
Từ sức hút của huyền thoại…Trong Tiếu ngạo giang hồDịch cân kinh được nhà văn Kim Dung mô tả là thần công do thiền sư Thiên Trúc là Bồ Đề Đạt Ma sáng tạo ra, uy lực vô cùng lớn, “hàng trăm năm qua không phải bậc kì nhân thì không truyền thụ, mà dẫu kì nhân nhưng không gặp kì duyên thì cũng không truyền thụ; dù có là đệ tử xuất chúng của chính Thiếu Lâm mà không có phúc duyên thì cũng không được truyền”.
untitled.bmp
Lệnh Hồ Xung - người hùng thoát chết nhờ Dịch cân kinh
Trong tiểu thuyết này, Lệnh Hồ Xung đại đệ tử phái Hoa Sơn bị nhiều luồng chân khí hỗn chiến trong cơ thể, tình trạng vô cùng nguy kịch, chỉ có Dịch cân kinh mới hóa giải được. Nhưng muốn học, điều kiện đầu tiên là phải gia nhập Thiếu Lâm, mà chàng thà chết không phản bội Hoa Sơn, do đó kiên quyết không chịu học. Cuối cùng, cảm kích trước nghĩa khí và công lao của vị thiếu hiệp, Phương Chính đại sư của Thiếu Lâm đã phá luật, mượn lời Phong Thanh Dương để truyền lại bí kíp này cho Lệnh Hồ Xung.

Còn trong Thiên long bát bộ, Trang Tụ Hiền nhờ luyện Dịch cân kinh mà đẩy được kịch độc băng hàn ra khỏi cơ thể, tự chữa vết thương, rồi trở thành cao thủ hàng đầu trên giang hồ. Ở một cuốn tiểu thuyết Kim Dung khác, Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cũng nhờ vào bộ bí kíp này để giải thoát cho mình và Hoàng Dung, vạch mặt Dương Khang trong đại hội Cái Bang.

 Một bản Dịch cân kinh lưu truyền

Sức hấp dẫn của bí kíp võ công này qua nghệ thuật mô tả của Kim Dung lớn đến nỗi, trước năm 1975, ở Sài Gòn xuất hiện những bản Dịch cân kinh giả khác với bản lưu truyền tại Trung Quốc; trong điều kiện khó khăn về thông tin, sách vở bấy giờ, rất nhiều người đã tin và học theo, nhẹ thì vô ích, nặng dẫn tới mất mạng. 
Trên thực tế, trước khi đi vào tiểu thuyết, ở Trung Quốc, Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh đã là những huyền thoại. Tương truyền sau khi Đạt Ma viên tịch, đệ tử Thiếu Lâm tìm thấy trong động một hộp sắt không khóa, nhưng không thể mở ra. Sau đó, có tăng nhân nghĩ ra cách nung nóng hộp, mới mở được, thì ra hộp được hàn kín bằng sáp để tránh hơi nước tràn vào làm hỏng. Trong hộp có hai cuốn sách, một cuốn là Dịch cân kinh, cuốn kia là Tẩy tủy kinh, đều viết bằng chữ Phạn.
Một thuyết cho rằng, bấy giờ ở Thiếu Lâm, người thực sự thông hiểu tiếng Phạn chỉ có Nhị tổ Huệ Khả. Huệ Khả để Dịch cân kinh lại Thiếu Lâm, mang theo cuốn Tẩy tủy kinh đi vân du thiên hạ. Các tăng nhân khác trong chùa cũng có mấy người biết chút tiếng Phạn, cùng nhau dịch ra rồi theo đó tu luyện, dẫn đến công phu Thiếu Lâm sau này chia nhiều nhánh, có sự sai khác.

Sau đó, có vị tăng nhân mang Dịch cân kinh lên núi Nga Mi gặp nhà sư người Thiên Trúc Bát Lạt Mật Đề, tạo ra bản Dịch cân kinh chữ Hán đầu tiên. Vân du quay về, Huệ Khả mang theo bản dịch Tẩy tủy kinh của mình, lúc đó mọi người mới phát hiện ra Dịch cân kinh với Tẩy tủy kinh là một.
Một thuyết khác phổ biến hơn, và được hưởng ứng hơn, đó là Tẩy tủy kinh đã bị thất truyền. Sự ủng hộ đối với giả thuyết này có lẽ phát sinh từ tâm lí kì vọng, bởi Tẩy tủy kinh vốn được coi là phương pháp tu luyện giúp cải lão hoàn đồng – điều luôn có sức hấp dẫn với bất cứ ai; và việc có đến 2 bộ chân kinh chắc chắn hấp dẫn hơn việc hai bí kíp đó chỉ là một. Đồng thời, khi một bộ võ công bị thất truyền, cũng không loại trừ khả năng nó đang được giữ kín ở đâu đó và sẽ tái xuất giang hồ vào một ngày không hẹn trước, khi đó giang hồ sẽ lại nổi sóng, bước vào một cuộc tranh giành mới để độc chiếm thứ tuyệt đỉnh công phu.

 Đại Hùng bảo điện của Thiếu Lâm luôn được cho là ẩn giấu những bí kíp võ công.

Quan niệm truyền thống cũng cho rằng, kể từ khi Dịch cân kinh ra đời, đối với tăng nhân Thiếu Lâm, ngồi thiền và luyện công mới bắt đầu trở thành hai mặt không thể tách rời, tạo ra nguyên lí “thiền võ hợp nhất” của công phu Thiếu Lâm Tự.
…Đến thực tế 
Tuy nhiên, sử liệu có vẻ lại cho thấy điều gần như hoàn toàn ngược lại, điều có thể làm thất vọng những “anh hùng xạ điêu” thời hiện đại đang ôm mộng chạm vào bí kíp ngàn năm.
Lần theo dòng lịch sử, từ đời Đường trở về trước, chưa có tài liệu chính thức nào đủ chứng minh chuyện Đạt Ma truyền dạy võ công cho đệ tử. Thời Tống Chân Tông, Trương Quân Phòng soạn một bộ Vân kíp thất bá, thuộc loại sách về Đạo giáo, trong đó có một thiên “Đạt Ma đại sư trú thế lưu hình nội chân diệu dụng quyết”.

Theo ghi chép trong Tống sử, có một cuốn Tồn tưởng pháp, một cuốn Thai tức quyết của Đạt Ma, một cuốn Đạt Ma huyết mạch luận của Huệ Khả, đều là những sách dạy về luyện khí, dưỡng thần. Nhưng theo các nhà nghiên cứu, có khả năng những sách này là do người đời Tống tạo ra rồi gán tên cho Đạt Ma.
Đến năm Thiên Khải thứ 4 đời Minh (1624), Tử Ngưng đạo nhân ở núi Thiên Thai tên là Tông Hành có đưa ra một bộ Dịch cân kinh, nói là của Bồ Đề Đạt Ma. Trong cuốn sách này có hai lời tựa, một của danh tướng Lí Tĩnh đời Đường, viết năm Trinh Quán thứ 2 (628), một của danh tướng đời Tống là Ngưu Cao, viết năm Thiệu Hưng thứ 12 (1142).
Phần tựa của Lí Tĩnh viết: “Sau khi Đạt Ma qua đời, để lại một hòm sắt, tăng đồ mở ra thấy có một bộ Dịch cân kinh và một bộ Tẩy tủy kinh, đều viết bằng tiếng Phạn. Tẩy tủy kinh bị Huệ Khả đem đi, đã thất truyền; Dịch cân kinh tuy còn ở Thiếu Lâm Tự, nhưng chỉ có thể đọc hiểu được một phần nhỏ, các tăng đồ diễn giải theo ý mình, rồi theo đó mà tập, vì vậy trở thành bàng môn, mất đi yếu chỉ thực sự của việc chân tu. Sau đó, có cao tăng người Thiên Trúc là Bát Lạt Mật Đề dịch ra, rồi chuyển đến tay Cầu Nhiêm Khách, người này giao lại cho Lí Tĩnh và gọi đó là “tiên thánh chân truyền”.
Phần tựa của Ngưu Cao thậm chí còn li kì hơn, và gắn với một nhân vật được người Trung Quốc nói chung và giới võ lâm nói riêng hết sức sùng bái: Nhạc Phi.

Người hùng Nhạc Phi

Bài tựa viết: Trên đường hành quân, Ngưu Cao gặp một nhà sư tự xưng là sư phụ của Nhạc Phi. Vị cao tăng than rằng Nhạc Phi danh tuy thành mà chí chưa đạt, rồi nhờ Ngưu Cao chuyển cho vị danh tướng này một cái hộp, trong có hai quyển Dịch cân kinh; sau đó vị hòa thượng nói phải sang Tây phương gặp sư phụ Đạt Ma, và theo cơn gió mà biến mất. Không lâu sau đó, Nhạc Phi bị gian thần hãm hại, nên bộ sách này vẫn do Ngưu Cao giữ và truyền lại.
Tuy nhiên, dựa trên nhiều cứ liệu như văn phong, cú pháp, nhiều nhà nghiên cứu hiện đại nhận định: chính Tông Hành đã ngụy tạo ra hai phần lời tựa kể trên, nhằm tăng tính chất cao siêu thần bí cho cuốn sách của mình.
Lúc đầu, Dịch cân kinh chỉ lưu truyền một bản sao, đến giữa đời Thanh bắt đầu xuất hiện bản khắc. Năm Hàm Phong thứ 8 (1858), thêm một bản từ Thiếu Lâm truyền ra, gọi là Vệ sinh yếu thuật. Vương Tổ Nguyên ở lại Thiếu Lâm 3 tháng, tìm được một bản Nội công đồ, một bản Thương bổng phả, nội dung giống như Vệ sinh yếu thuật, liền san cải, bỏ bớt những phần tạp lẫn vào và đặt tên là Nội công đồ thuyết. Những bản khắc đời Thanh này đều dựa trên cơ sở Dịch cân kinh, nhưng bổ sung rất nhiều nội dung, trong đó một phần lấy từ sách Thọ thế truyền châncủa Từ Minh Phong đời Càn Long.
Năm 1938, Ngô Đồ Nam xuất bản cuốn Quốc thuật khái luận, trong đó những phần nói về Thiếu Lâm đều dựa theo thuyết cũ, cho Đạt Ma là thủy tổ, và cho Bạt Đà – Huệ Quang – Đạt Đàm – Đạt Ma – Huệ Khả là các thế hệ truyền thừa.

 Vài thế tập Dịch cân kinh trong các bản hiện tồn

Năm 1984, trong bài nghiên cứu “Võ thuật Thiếu Lâm thực chất không có liên quan gì đến Đạt Ma”, giáo sư Trương Truyền Tỉ của đại học Bắc Kinh đã bác bỏ một cách tương đối thuyết phục thuyết Dịch cân kinh do Đạt Ma sáng tạo ra. Dịch cân kinh, tác phẩm được coi là cội nguồn công phu Thiếu Lâm, thực chất là một cuốn sách rèn luyện công phu giúp lưu thông kinh mạch, cường gân tráng cốt của các chân nhân Đạo giáo. Quan điểm này gần đây (2007) đã được chính Thiếu Lâm Tung Sơn xác nhận trên website chính thức của mình. 
Đây là một tuyên bố gây thất vọng với rất nhiều người, đặc biệt là những fan của Kim Dung, Cổ Long vốn sùng bái những Dịch cân kinh, Tẩy tủy kinh, Cửu âm chân kinh… những bí kíp thượng thừa mang màu sắc huyền thoại.
Tuy nhiên, một luồng ý kiến khác cho rằng, ngay cả khi Dịch cân kinh không phải do Đạt Ma sáng tạo ra, thì cũng không phải vô tình mà nó được gán cho Thiếu Lâm; việc nói rằng Tông Hành mượn tên tuổi Đạt Ma cũng khá khiên cưỡng, bởi lẽ các môn phái đều ưu tiên tôn vinh tổ sư của mình, mà bản thân các tông sư của Đạo giáo như Thái thượng lão quân có tầm ảnh hưởng không kém gì Đạt Ma.

Mặt khác, Thiếu Lâm Tự ngày nay đã không còn giữ được nguyên vẹn những kì thư trong Tàng Kinh Các sau nhiều lần binh hỏa, nhiều tuyệt kĩ cũng đã thất truyền, cho nên những gì còn lại ở Thiếu Lâm hiện nay không đủ chứng minh diện mạo Thiếu Lâm trong quá khứ, và những gì các hòa thượng Tung Sơn ngày nay biết đến cũng không phải là toàn bộ sự thật về Thiếu Lâm.


 Dịch cân kinh được coi là một bài tập dưỡng sinh hiệu quả

Mặt khác, ngay cả khi phải thừa nhận rằng Dịch cân kinh không bắt nguồn từ Đạt Ma, Thiếu Lâm Tự vẫn coi đây là một pho võ công quý. Bản thân cuốn sách này cũng được đưa vào các sách dạy y học cổ truyền của Trung Quốc như một tông thư hàng đầu.
Gần đây, dư luận lại xôn xao khi tìm thấy ở Tứ Xuyên một cuốn Dịch cân tẩy tủy kinh bản khắc in, trên có chữ “Nam Tống Thiếu bảo Nhạc Bằng phụng giám định bản nha tàng”.  Việc cuốn sách được khắc in cho thấy tính chính thống và tin cậy của tư liệu trên sách, khiến dư luận hết sức hứng khởi. Nếu được xác minh là đúng, thì thuyết Dịch cân kinh đã có từ đời Tống và gán với tên tuổi Nhạc Phi là hoàn toàn có cơ sở, cũng có nghĩa rằng, bí kíp Dịch cân kinh có thể không chỉ là huyền thoại!


Hình ảnh bản Dịch cân tẩy tủy kinh mới công bố.

Cũng nên nhớ rằng, không cần đến khi Dịch cân kinh ra đời, Thiếu Lâm mới trở thành Thái Sơn Bắc đẩu của võ lâm Trung nguyên. Và kungfu Thiếu Lâm vang danh thiên hạ, truyền lại đến ngày nay không chỉ nhờ vào những huyền thoại, mà còn nhờ những tuyệt kĩ và chiêu thức võ công có thật, không chỉ vô cùng hiệu quả, mang tính thực chiến cao, mà còn vô cùng tinh diệu và đẹp mắt.

Chuyện lạ có thật trên thế giới

Chuyện lạ có thật trên thế giới

   Bóng ma cầu thang Tulip
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Mục sư nghỉ hưu Ralph Hardy đã chụp được 1 bức ảnh ở cầu thang xoắn ốc (được gọi là cầu
 thang "Tulip") trong khu vực Nhà của Nữ hoàng ở Bảo tàng Quốc gia Hàng hải Greenwich, Anh.
 Các chuyên gia đã phân tích âm bản ban đầu và xác định tấm ảnh này không hề bị chỉnh sửa.
Tấm ảnh này được xem là bằng chứng cho nhiều cuộc gặp gỡ ma quái tại Nhà của Nữ hoàng là
 hoàn toàn có thật. Tiếng bước chân, cánh cửa đóng sầm, và tiếng nói văng vẳng của trẻ em
 thường được nghe thấy xung quanh khu vực cầu thang. Du khách đến bảo tàng thậm chí còn bị
 ngắt, vấu bởi các ngón tay không nhìn thấy được khi đi tham quan tại nơi này.
Các nhà sử học cho biết, cách đây 300 năm, một người giúp việc đã bị ném từ trên cầu thang
 xuống và chết, đó là lý do vì sao có nhiều chuyện ma quái xung quanh chiếc cầu thang này.

Bóng ma ngồi sau xe
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Năm 1959, Mabel Chinnery đến thăm mộ của mẹ bà trong một khu nghĩa trang ở Anh. Bà đã
chụp ảnh chồng bà khi ông đang ngồi đợi một mình trong xe. Tuy nhiên đến khi tấm ảnh này
 được rửa ra, người ta mới nhận thấy chồng của bà Mabel lúc đó không hề chờ đợi một mình.
Trong hình còn có thêm một người đeo kính ngồi ở ghế sau, và bà Chinnery ngay lập tức nhận
ra ngay đó chính là mẹ bà - người mà bà vừa mới đi viếng mộ.
Một chuyên gia về nhiếp ảnh đã kiểm tra bản in và xác thực rằng hình ảnh của người phụ nữ
 trong xe không phải là một sự phản chiếu hay bị đè ảnh, mà đó là hình ảnh thật.

Nhà tù Đông Mỹ
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Khi đoàn làm phim chương trình truyền hình Ghost Hunter đến thăm nhà tù lịch sử Đông Mỹ ở
Philadelphia, họ đã ghi lại được một cảnh phim đáng chú ý của một thứ gì đó chạy về phía
camera và đột ngột quay đầu chạy về một hướng khác.

Hồn ma Toys 'R' Us
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Hồn ma cửa hàng Toys 'R' Us ở Sunnyvale, California, là một linh hồn tên John - bóng người
đang đứng tựa vào tường trong bức ảnh trên. Các nhà tâm linh nổi tiếng đã đến thăm cửa
hàng này nhiều lần và đã tiến hành những buổi lễ cầu hồn, nhờ đó họ mới tìm ra được tên
của John. Được biết, John là một nhà thuyết giáo và là một người làm nông vào những năm
1880 trên vùng đất mà hiện nay đã trở thành cửa hàng. Có nhiều phán đoán khác nhau về cái
chết của ông nhưng tất cả đều có một suy nghĩ chung rằng, ông bị chảy máu đến chết trong khi
cắt gỗ.
Nhân viên của cửa hàng cho biết, John thường chơi khăm họ và các khách hàng, bao gồm cả
 việc đi theo người ta vào toilet nữ và bật vòi nước, ném con búp bê ra khỏi kệ, và thì thầm tên
 của nhân viên bên tai họ, và khi họ quay đầu sang thì không thấy ai cả.

Bóng ma phía sau bà
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Denise Russell chụp bức ảnh này của bà cô vào năm 1997. Bà của cô sống một mình ở tuổi
 90, và trong một chuyến dã ngoại cùng gia đình ngay trước khi bà qua đời, Denise đã chụp
 bức ảnh này. Không ai để ý đến người đàn ông đứng đằng sau bà trong bức hình đã hơn
ba năm, nhưng cuối cùng họ cũng phát hiện ra, đó chính là ông của Denise, người đã mất kể
từ năm 1984.

Người phụ nữ của Raynham Hall
 10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Tấm ảnh này được chụp vào năm 1936 và đây có lẽ là hình ảnh ma quái nổi tiếng nhất mọi thời
 đại, thậm chí cho đến nay vẫn chưa ai có thể bác bỏ tính xác thực của nó. Các nhiếp ảnh
 gia đã đến Raynham Hall ở Norfolk, Anh, để chụp ảnh cho tạp chí Country Life, và đó cũng là
lúc họ chụp được hình ảnh của 1 người phụ nữ trong ngôi nhà đang đi xuống cầu thang.
 Provand chứng kiến sự việc bằng mắt thường trước rồi sau đó nâng máy lên để chụp được
 bức ảnh nổi tiếng này.

Oan hồn trẻ em
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Năm 1946, một người phụ nữ tên Andrews đã chụp hình bia mộ của đứa con gái đã qua đời ở
Queensland, Úc. Con gái bà chỉ mới 17 tuổi và qua đời vào 1 năm trước đó. Khi tấm hình
được rửa ra, bà Andrews đã bị sốc khi nhìn thấy hình ảnh của một bé gái đang nhìn trực tiếp vào
 máy ảnh.
Được biết tại nghĩa trang khi ấy không hề có trẻ em nào, bà Andrews cũng không hề biết bất kỳ
 đứa trẻ nào trông giống với đứa bé mà bà đã chụp được từ máy ảnh. Ngoài ra đứa bé này
cũng không giống với con gái bà khi cô còn là một đứa trẻ. Nhiều năm sau, Tony Healy - nhà
 nghiên cứu những điều siêu tâm linh ở Úc đã điều tra vụ việc này và tìm thấy ngôi mộ của hai
em bé sơ sinh nằm rất gần ngôi mộ của con gái bà Andrews.

Khách sạn The Mount Washington
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Đi vào hoạt động từ năm 1902, khách sạn resort Mount Washington ở Carroll, New Hampshire,
 được tin là nhà của 1 số linh hồn. Đáng chú ý nhất, bóng ma của 1 công chúa ở trong khách
sạn vào mỗi mùa hè được cho là thường xuyên xuất hiện trước mặt du khách nhất. Công
 chúa thích cảm giác thoải mái khi được nằm trên chiếc giường của riêng mình, và chiếc giường
 này vẫn còn được đặt trong phòng 314 cho đến nay.

Bóng ma trẻ em trong trang trại
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Nhiếp ảnh gia Neil Sandbach đang chụp hình xung quanh một trang trại ở Hertfordshire, Anh,
sau khi Sandbach xem lại hình ảnh đã chụp, ông không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy 1 đứa
trẻ lang thang hiện lên trong bức ảnh của ông.
Sau đó ông đã hỏi chủ trang trại rằng họ có nhìn thấy những điều gì khác thường xung quanh
 đây không và hoàn toàn giấu nhẹm bức ảnh đáng ngờ này, và chủ trang trại đã xác nhận
rằng, trước đây họ thường xuyên nhìn thấy bóng ma của một cậu bé trong bộ quần áo màu trắng.

Bóng ma bãi rào ở Oklahoma
10 hình ảnh ma quái có thật rùng rợn nhất, Phi thường - kỳ quặc, ma quai, bong ma, hinh anh ma, chuyen la co that
Vào một đêm ở Oklahoma, có 3 tai nạn xe hơi đã cướp đi mạng sống của nhiều người.
Các xe hư hỏng nặng đã được đưa tới bãi rào ở địa phương, và nhân viên ở đây đã chứng
kiến một thứ gì đó kì lạ trên máy quay giám sát: một bóng trắng di chuyển xung quanh những
chiếc xe hư hỏng. Gia đình của một trong những người bị nạn tin rằng bóng ma trắng đó chính
 là người thân của họ, và cho rằng hồn ma của người này đang cố gắng xuất hiện để thông báo
 cho người nhà 1 thông điệp nào đó.